Một buổi chiều mưa bão hiếm hoi ở SG, tình cờ tôi bị đặt một câu hỏi. Thế là câu hỏi ấy cứ dẫn dắt tôi đi hết từ cái lan man này đến cái lan man khác. Đây không phải là những điều tôi tự nghiên cứu. Tôi chỉ tổng hợp những điều tôi biết và chia sẻ cùng mọi người, trình bày theo cách riêng của tôi nhưng sẽ cố gắng để các bạn dễ hiểu nhất.

Tại sao không dùng NSAIDs ở bệnh nhân hen phế quản?
Acid arachidonic có thể chuyển hoá thành Prostaglandin [PG] (E2, I2) và Thromboxan [TX] A2 dưới tác dụng của men Cyclooxygenase (cox).
Hình  ảnh
Mặt khác, nó cũng có thể chuyển hoá thành Leukotrien nhờ men Lipo-oxygenase.
Hình  ảnh
PG E2 gây viêm, đau. (PG I2 và TX A2 tác động đến sự lắng động tiểu cầu.) Leukotrien là chất gây co thắt phế quản mạnh hơn Histamin 10.000 lần.

NSAIDs ức chế quá trình chuyển hóa acid arachidonic thành Prostarglandins thông qua ức chế men Cyclooxygenase. Điều này làm toàn bộ acid arachidonic dồn sang chuyển hoá theo con đường tạo thành Leukotrien. Lượng Leukotrien tăng một cách bất thường có thể khởi phát cơn hen.

Cơ chế bệnh sinh hen phế quản:
Có 2 cơ chế: cơ chế miễn dịch dị ứng type I và cơ chế thần kinh thể dịch. Người ta vẫn chưa biết rõ cơ chế của hen phế quản nội sinh.

+ Cơ chế miễn dịch dị ứng type I:

  • Khi có kháng nguyên (dị ứng nguyên) xâm nhập vào đường hô hấp, các tế bào nhiều chân (có ở bên trong và bên dưới lớp tế bào biểu mô phế quản) sẽ bắt và trình diện kháng nguyên cho tế bào T giúp đỡ 0 (Th0).
  • Các Th0 tiết ra các IL-12, 10 và PGE2 hoạt hóa Th2
  • Th2 được hoạt hóa sẽ phóng thích các IL-3, 4, 5, 13, GM-CSF.
  • IL-4 hoạt hóa tế bào Lympho B (LB) tiết ra IgE.
  • IgE gắn lên các thụ thể có ái tính mạnh với trên các tương bào và bạch cầu ái kiềm. Khi đó, các tế bào này sẽ phóng thích ra các hóa chất trung gian gây viêm: histamine, tryptase, chymase, leukotrien, IL-4, 5, PAF, TNF-α…
  • Các hóa chất trung gian gây ra các biến đổi trên cây phế quản: tăng tính kích thích của phế quản, tăng tiết đàm, tăng tính thấm thành mạch, tăng phù nề niêm mạc phế quản, tăng co thắt cơ trơn phế quản.
  • Phản ứng dị ứng xảy ra sớm trong vòng 30′ sau khi tiếp xúc với dị ứng nguyên. Sự co thắt này có thể tự phục hồi trong 1-2 giờ.
  • Sau đó, các tế bào ái toan, neutrophil, monocyte, đại thực bào cũng bị các IL-3, 4, 5, 13, GM-CSF lôi kéo tới nơi viêm gây phóng thích thêm các hoá chất trung gian bởi chính nó hoặc từ màng phospholipid tạo ra một đợt co thắt tiếp theo (giai đoạn muộn).

+ Cơ chế thần kinh thể dịch:

  • Hệ thần kinh đối giao cảm bị kích thích sẽ phóng thích các acetylcholine tác động lên các thụ thể muscarinic, có thể gây co thắt phế quản và khởi phát cơn hen.
  • Các chất trung gian gây viêm có thể kích thích thần kinh cảm giác gây ra phản xạ co thắt phế quản hoặc tiết ra các neuropeptide viêm
  • Các Neurotrophin (được phóng thích từ các tế bào khác nhau của mô ngoại biên) làm thần kinh nhận cảm đường hô hấp tăng sinh và nhạy cảm.
  • Các dây thần kinh đường thở phóng thích ra các chất dẫn truyền thần kinh như chất P có hiệu quả gây viêm.

Cơ chế tác động của NSAIDs:
+ Tác dụng chống viêm:

  • Ức chế tổng hợp PG do ức chế cox
  • Làm bền vững màng lysosom, qua đó giảm giải phóng các enzym làm tăng quá trình viêm của lysosom.
  • Một số cơ chế khác như đối kháng với các chất trung gian gây viêm do cạnh tranh với cơ chất của enzym, ức chế di chuyển bạch cầu, ức chế phản ứng kháng nguyên – kháng thể.

+ Tác dụng giảm đau:

  • PG làm giảm ngưỡng kích thích của thụ cảm đau để Bradykinin (và các chất gây đau do viêm khác như histamin, serotonin…) dễ dàng gây một điện thế động tại đây rồi khởi phát luồng dẫn truyền cảm giác đau. NSAIDs ức chế tổng hợp PG, do đó có tác dụng tốt đối với các chứng đau do viêm, không có tác dụng với đau nội tạng.
  • Đối với một số chứng đau sau mổ, NSAIDs làm giảm đau mạnh hơn cả morphin vì mổ đã gây ra viêm.
  • NSAIDs kém tác dụng trong đau do chèn ép cơ học, hoặc do các tác nhân hóa học, kể cả tiêm trực tiếp PG chứng tỏ cơ chế quan trọng của nó là ức chế tổng hợp PG.

+ Tác dụng hạ sốt:

  • Các chất gây sốt nội sinh hoạt hóa PG synthetase (cox?), làm tăng tổng hợp PG từ acid arachidonic của vùng dưới đồi gây biến đổi trung tâm điều nhiệt dẫn đến sốt.
  • NSAIDs ức chế PG synthetase, làm giảm tổng hợp PG nên có tác dụng hạ sốt.

+ Tác dụng ngưng kết tiểu cầu:

  • Cox của tiểu cầu (thromboxan synthetase?) tạo ra TX A2, là một chất gây co mạch mạnh và kết dính tiểu cầu. Cox của nội mạc mạch máu (prostacyclin synthetase) tạo ra prostacyclin (PG I2), có tác dụng giãn mạch và kháng tác động kết dính tiểu cầu (ngược lại với TX A2). Điều này giúp tiểu cầu chảy trong lòng mạch bình thường mà không bị đông vón.
  • Aspirin là thuốc tiêu biểu cho nhóm NSAIDs trong tác dụng ức chế không hồi phục cox. Vì tiểu cầu không có khả năng tái tổng hợp cox (trong khi nội mạc mạch máu thì có thể) nên chỉ cần một lượng nhỏ Aspirin là đủ để ức chế sự tạo thành TX A2 trong suốt cuộc đời tiểu cầu (8-11 ngày).
  • Ức chế sự kết dính tiểu cầu mà vẫn duy trì được cox của nội mạc mạch máu là điều rất cần thiết cho bệnh nhân bệnh động mạch vành.
  • Trong đau thắt ngực, khi mảng xơ vữa bong ra khỏi thành mạch, tiểu cầu sẽ được kích hoạt sinh ra thrombin, kế đó là sự thành lập fibrin, cuối cùng là hình thành cục máu đông. Aspirin ức chế sự kết tụ tiểu cầu do ức chế sự tạo thành TX A2, nhưng rất ít hiệu quả trong ức chế sự kết tụ tiểu cầu do Thrombin gây ra. Heparin ức chế sự kết tụ tiểu cầu do Thrombin gây ra. Do đó, dùng heparin đơn độc hoặc phối hợp với aspirin luôn cho kết quả tốt hơn chỉ dùng aspirin trong ngăn chặn nhồi máu cơ tim trong giai đoạn cấp của đau thắt ngực không ổn định.

Đôi điều về Cyclooxygenase (cox) – NSAIDs và bệnh lý dạ dày:
Từ mươi năm gần đây, các nghiên cứu đã cho thấy có 2 loại COX, được gọi là COX – 1 và COX- 2 có chức phận khác nhau và các thuốc chống viêm tác dụng với mức độ khác nhau trên COX – 1 và COX-2.

- COX-1: hay PGG/ H synthetase- 1 có tác dụng duy trì các hoạt động sinh lý bình thường của tế bào là một “enzym cấu tạo”. Enzym có mặt ở hầu hết các mô, thận, dạ dày, nội mạc mạch, tiểu cầu, tử cung, tinh hoàn … Tham gia trong quá trình sản xuất các PG có tác dụng bảo vệ, do đó còn gọi là “enzym giữ nhà” (“house keeping enzyme”) :
. Thromboxan A 2 của tiểu cầu
. Prostacyclin (PGI2) trong nội mạc mạch, niêm mạc dạ dày
. Prostaglandin E 2 tại dạ dày bảo vệ niêm mạc
. Prostaglandin E 2 tại thận, đảm bảo chức phận sinh lý.

- COX- 2: hay PGG/ H synthetase 2 có chức phận thúc đẩy quá trình viêm. Thấy ở hầu hết các mô với nồng độ rất thấp, ở các tế bào tham gia vào phản ứng viêm (bạch cầu 1 nhân, đại thực bào, bao hoạt dịch khớp, tế bào sụn). Trong các mô viêm, nồng độ COX – 2 có thể tăng cao tới 80 lần do các kích thích viêm gây cảm ứng và hoạt hóa mạnh COX – 2. Vì vậy COX- 2 còn được gọi là “enzym cảm ứng”

NSAIDs tác động lên quá trình viêm do ức chế cox2 đồng thời ức chế cả cox1 làm ức chế quá trình tổng hợp prostaglandin ở dạ dày. Nồng độ prostaglandin ở dạ dày giảm gây ảnh hưởng đến cơ chế bảo vệ – sửa chữa niêm mạc dạ dày:

  • Ảnh hưởng trên niêm mạc làm tăng tiết HCl, giảm tiết mucin, giảm tiết HCO3-, giảm phospholipid hoạt động bề mặt và giảm tăng sinh tế bào biểu mô.
  • Ảnh hưởng trên nội mạc mạch máu gây ứ trệ tuần hoàn dẫn đến thiếu máu cục bộ ở dạ dày.
  • Cơ chế bẫy ion làm tổn thương trực tiếp niêm mạc dạ dày:
    • Trong môi trường acid dạ dày, đa số các thuốc kháng viêm là acid yếu, sẽ tồn tại dưới dạng không ion hóa, do đó di chuyển dễ dàng qua mạng lipid của tế bào niêm mạc để vào trong.
    • Khi vào bên trong tế bào niêm mạc, thuốc kháng viêm sẽ bị nhốt trong tế bào dưới dạng ion hóa làm tổn thương tế bào.
  • Sự tiếp xúc trực tiếp của NSAIDs còn làm thay đổi lớp chất nhày bề mặt, cho phép H+ và pepsin khuyếch tán ngược vào lớp niêm mạc gây tổn thương niêm mạc.

Ngày nay, người ta đã nghiên cứu và chế tạo được các loại thuốc tác động chọn lọc lên cox 2

Prostaglandin – Thromboxan – Leukotrien:
PG được phát hiện đầu tiên ở tuyến tiền liệt (prostategland). Được coi như là một loại nội tiết tố, chất thông tin thứ hai, có thể làm hạ huyết áp, kích thích co cơ trơn, điều hòa một vài chuyển hóa trong cơ thể, chia thành 2 phân nhóm chính, phân nhóm tan trong ether được gọi là PGE ở C9 có nhóm chức ceton, có vai trò hoạt hóa adenylcyclase trong tổng hợp AMPv, và phân nhóm tan trong đệm phosphat là PGF ở C9 có nhóm chức alcol, kích thích co cơ trơn… Số kèm theo PG chỉ số liên kết đôi có trong phân tử. Ulf von Euler là người tìm ra và đặt tên cho PG đã nhận được giải Nobel cho công trình này.

TX lần đầu tiên được tách từ tiểu cầu (thrombocyte), tham gia chủ yếu vào quá trình đông máu.

Leukotrien, lần đầu tiên được tách từ bạch cầu (leucocyte), kích thích co cơ khí quản. Các triệu chứng khó thở do leucotrien cũng xuất hiện khi người bị ong đốt hoặc dị ứng.

Cảm giác đau – Chất P:
Nhiều chất hóa học nội sinh được biết là có vai trò nhất định trong việc hình thành cảm giác đau,bản chất hóa học rất đa dạng, có thể là peptide như chất P, lipide như Prostaglandin có khi chỉ là aminoacid đơn giản như Glycin. Tuy bản chất hóa học có thể khác nhau nhưng người ta sớm nhận ra một đặc điểm chung là hầu hết những chất này đều có khả năng làm giảm điện thế bậc [threshold] của thụ cảm đau [pain receptor]. Như vậy đặc tính sinh lý của những chất gây cảm giác đau là đặc tính của những chất dẫn truyền thần kinh [neurotransmitter] và cơ chế hoạt động hiển nhiên là liên quan đến điện thế màng tế bào [membrane potential], những chất có tác dụng giảm đau cũng mang vài đặc tính của những chất dẫn truyền thần kinh và cũng tác động xuyên qua điện thế màng tế bào. Một số chất liên quan đến cảm giác đau như Bradykinin, Chất P, Serotonin, Histamin… (như đã nói ở phần cơ chế giảm đau của NSAIDs).

Chất P:
Trước đây chất P được xem như một chất có khả năng gây đau nhưng hiện nay những bằng chứng thực nghiệm không hỗ trợ cho nhận định này, vai trò của chất P như một chất dẫn truyền từ neuron dẫn truyền cảm giác thứ nhất sang neuron thứ hai [đường spino-thalamic] được xác định chắc chắn. Ngăn chặn sự phóng thích của chất P từ neurone dẫn truyền cảm giác thứ nhất sẽ cắt đứt hoàn toàn cảm giác đau, đó cũng chính là cơ chế chống đau của các chất ma túy.Tại các tổ chức ngoại biên chất P không có vai trò rõ rệt trong việc hạ thấp ngưỡng của cảm giác đau.
———————
Phần mở rộng – Có thể rối rắm với một số người xem.
———————
Điện thế màng tế bào, Prostaglandin và cảm giác đau:

Hình ảnh

Điện thế màng tế bào là một hoạt động chủ yếu của neurone. Trọng tâm của điện thế màng tế bào là điện thế động (action potential), gồm các giai đoạn theo qui ước:

  • Giai đoạn 4: tương ứng với điện thế nghỉ.
  • Giai đoạn 0: tương ứng với sự khử cực.
  • Giai đoạn 1: tương ứng với sự thoát bào sớm của potassium.
  • Giai đoạn 2: tương ứng với cao nguyên của điện thế động.
  • Giai đoạn 3: tương ứng với sự hồi cực.

1. Điện thế nghỉ (Resting potential)- Phase 4:
Ở trạng thái nghỉ màng tế bào có sự phân cực (polarization) là độ chênh lệch điện thế ở mặt ngoài và mặt trong tế bào, điện thế đo được ở thời điểm này (điện thế nội bào) khoảng từ –90mV đến –65mV tùy từng loại tế bào.

Như vậy 2 bên màng tế bào tạo nên một điện trường (electric field), trong trường hợp neurone Na+, K+ và Cl- là những ion chủ chốt, vector lực của điện trường này là tổng hợp các vector lực của các ion.

Khi ở trạng thái nghỉ kênh sodium và kênh chloride đóng tuyệt đối chỉ có kênh K+ mở hoàn toàn, đây là kênh K+ chỉnh lưu nhập bào (inward rectifier K+ channel) lệ thuộc vào năng lượng ATP để chuyển vận K+ di chuyển ngược chiều gradient nồng độ K+. Kênh này còn có tên gọi là kênh K+ lệ thuộc ATP (ATP-dependant K+ channel). Dòng K+ nhập bào tại đây chuẩn bị cho sự khử cực dễ dàng hơn không phải vì hạ thấp ngưỡng kích thích mà làm điện thế nghỉ tới điện thế bậc trong thời gian ngắn hơn.

2. Giai đoạn khử cực (depolarization)- Phase 0 :
Khi độ chênh lệch điện thế ở 2 bên màng tế bào đạt đến 1 trị số gọi là điện thế bậc, sự mở kênh Na+ sẽ làm một lượng lớn ion này tràn vào nội bào. Sự xâm nhập nội bào của Na+ làm điện thế nội bào dịch chuyển từ trị số âm đến trị số dương. Người ta nghĩ rằng cổng của kênh Na+ mở từ điện thế bậc (threshold) đến -61mV nên được xem là cổng cảm ứng điện thế (Voltage-sensitive gate). Trong điện thế động có 2 thời điểm màng tế bào ở điện thế –61mV thích hợp cho sự mở cổng; thời điểm thứ nhất trong phase 0 và thời điểm thứ hai trong phase 3. Những trị số điện thế lớn hơn –61mV đều không thể làm mở cổng, thời gian màng tế bào có điện thế > – 61mV giữa phase 0 và phase 3 là thời gian tế bào không thể đáp ứng với kích thích được gọi là thời gian trơ (refractory period).

3. Giai đoạn 1:
Sự giảm nhanh điện thế trong giai đoạn này do K+ xuất bào, kênh K+ chịu trách nhiệm trong giai đoạn này là kênh đáp ứng cực nhanh (ultra rapid K+ channel-early K+ channel). Có những bằng chứng cho thấy trên neurone, Chloride cũng nhập bào trong giai đoạn này và sự giảm nhanh điện thế không phải chỉ là kết quả của K+ đơn thuần, những neurone trên thân não nằm trên đường phát tán của hệ lưới được tìm thấy có nhiều kênh chloride loại này. Có lẽ benzodiazepines và barbiturates tác động lên vỏ não qua những kênh chloride tại đây.

4. Giai đoạn cao nguyên- Phase 2:
Đây là giai đoạn điện thế màng tế bào duy trì ở một trị số cao và tương đối ổn định trong khoảng thời gian dài nhất của điện thế động. Trong giai đoạn này ion Ca++ có vai trò cân bằng điện tích dương chống lại sự giảm sút điện tích dương vì sự xuất bào của K+, vai trò này được đảm nhiệm bởi kênh Ca++ loại L. Trong điều kiện điện thế động phát sinh một cách bình thường hầu hết phase 2 nằm trong khoảng thời gian trơ nhưng nếu có sự kích hoạt toàn bộ các kênh K+ xuất bào thì vai trò của Ca++ như một nhân tố duy trì điện thế sẽ bị giảm đi một cách rất đáng kể.

Người ta biết là lượng Ca++ nhập bào qua kênh Ca++ ở màng tế bào trong giai đoạn này chỉ là 1/1000 M rất nhỏ so với lượng Ca++ nội bào trong cùng thời điểm. Như vậy sự duy trì điện thế màng tế bào ở phase 2 là do Ca++ nội bào hơn là do Ca++ nhập bào. Ca++ nội bào được phóng thích từ hệ võng nội bào qua những kênh Ca++ trên màng của hệ võng nội bào được kích hoạt bởi Inositol triphosphate (IP3) và ryanodine qua 2 thụ thể: thụ thể IP3 và thụ thể ryanodine. Trong thực nghiệm nếu hủy tác dụng IP3 thì sự nhập bào của Ca++ không thể duy trì sự giảm nhanh điện thế màng tế bào do K+ xuất bào.

5. Giai đoạn hồi cực nhanh- Phase 3:
Đây là giai đoạn nồng độ nhập bào của Ca++ không đáng kể so với nồng độ xuất bào của K+, trên mô tim người ta không thấy rõ vai trò nhập bào của dòng Chloride đối lưu với dòng K+ xuất bào nhưng ở neurone của nhiều loài kể cả người thì dòng chloride nhập bào trong giai đoạn này được xác nhận rõ rệt. Nếu xét về phương diện điện thế thì sự nhập bàocủa Chloride tại đây lại có tác dụng hỗ trợ cho K+ trong việc đẩy nhanh quá trình hồi cực dễ đạt đến điện thế mở cổng của kênh Sodium có khả năng tạo một hiện tượng khử cực sớm.

Kênh potassium hoạt động trong giai đoạn hồi cực là kênh chỉnh lưu chậm (slow delayed rectifier), thời điểm hoạt động của kênh này trùng với sự chấm dứt của thời gian trơ.

Hình ảnh

Bản chất của hiện tượng đau được biết cho đến nay là một luồng thần kinh khởi đầu từ thụ cảm đau [pain receptor] dẫn truyền theo sợi C [C fiber], một loại tế bào thần kinh không có myeline [unmyelinated] vận tốc truyền luồng thần kinh 3m/giây, nằm trong rễ sau của tủy sống, tận cùng tại đầu sừng sau của tủy sống trước lớp Rolando. Tế bào thứ hai tiếp cận ngay sau lớp Rolando phần đầu trong chất xám tủy, phần sau chạy trong cột bên [lateral column] của chất trắng tủy trong một bó gọi là Lateral SpinoThalamic tract tận cùng ở thalamus. Tế bào cuối cùng đi từ thalamus đến vỏ não ngay sau rãnh Rolando, cho cảm nhận về tính chất và vị trí của cảm giác đau. (Đọc nội thần kinh Y5 các bạn sẽ hiểu kỹ khúc này)

Prostaglandin góp một phần khiêm tốn trong tiến trình tạo ra cảm giác đau bằng cách làm ngưỡng kích thích của thụ cảm đau nên BRADYKININ dễ dàng gây một điện thế động tại đây để khởi phát luồng thần kinh cảm giác đau.

Những năm gần đây người ta nhận ra rằng nếu đường dẫn truyền cảm giác đau chỉ đơn giản như thế thì con người sẽ không thể chịu đựng nổi một sự kích thích với cường độ nhỏ nhất, thiên nhiên đã thiết kế những phương tiện chống đau hữu hiệu để làm giảm cường độ của đường thần kinh dẫn truyền cảm giác đau đã được mô tả theo những cách sau:

[1].
Đường dẫn truyền cảm giác sâu [proprioceptive] gồm những sợi thần kinh A-delta có nhiều myeline với vận tốc truyền luồng thần kinh 12m/giây, thụ cảm [receptor] của những sợi này xen kẽ lẫn lộn với thụ cảm đau [pain receptor, free nerve ending], sợi A-delta tạo thành cột sau [posterior column, bó Goll-Burdach] của tủy sống, tại đây nó cho những nhánh phụ [collateral] vào đầu sừng sau tủy sống làm thành một synapse với sợi C. Vitamine B12 [cyanocobalamine] là một cofactor quan trọng cho hoạt động của đường thần kinh này, những trường hợp hủy hoại cột sống sau như bệnh Tabes Dorsalis [Giang Mai thần kinh] có thể biến một cảm giác bình thường thành những cơn đau khủng khiếp thí dụ co thắt dạ dày có thể cảm thấy như thủng dạ dày một triệu chứng kinh điển của Tabes Dorsalis, thiếu B12 có thể làm tăng cảm giác bình thường thành cảm giác đau vì sợi A-delta hoạt động kém hữu hiệu,chúng ta có thể thấy trong hội chứng Plummer-Vinson [bỏng rát dọc theo thực quản khi nuốt + thiếu máu đại hồng cầu] đây cũng là vị trí duy nhất mà B12 có tác dụng giảm đau. Vitamine B12 thường được xem là có tác dụng giảm đau thật ra là một sự lầm lẫn, dược lực học [pharmacodynamic] không tìm được tác dụng giảm đau của B12 [và các sinh tố B khác] ở bất kỳ vị trí nào khác. Việc sử dụng sinh tố nhóm B trong mọi trường hợp đau khác nếu không là giai thoại thì cũng là chuyện không thể tin cậy và kiểm chứng được.

[2].
Lớp Rolando còn được gọi là Substantia Gelatinosa vì trông giống chất thạch [gelatine] dưới kính hiển vi quang học, gồm nhiều tế bào thần kinh đa cực [multipolar cell] có nhiệm vụ ức chế cường độ dẫn truyền cảm giác đau của sợi C, chức năng này đã dẫn tới 1 lý thuyết về sự giảm đau tự nhiên gọi là lý thuyết cổng kiểm soát [control-gate theory] của Wall và Melzac đề xuất vào năm 1965 mở đường cho những phát hiện về sau liên quan đến các chất ma túy nội sinh [Endorphine,Enkephaline], lý thuyết này cũng tạo nên những nền tảng để có thể hiểu được tác dụng giảm đau của châm tê vào năm 1978. Theo Wall và Melzac những tế bào đa cực trong lớp Rolando có vai trò trung gian dẫn truyền luồng thần kinh từ nút synapse của sợi C đến tế bào của đường Lateral Spinothalamic dưới dạng điện thế màng tế bào, khi luồng thần kinh từ bó Goll-Burdach đến đầu sừng sau tủy sống trước vì vận tốc truyền nhanh hơn trên sợi C [12m/s so với 3m/s] tạo ra điện thế động tại những tế bào đa cực này, lúc luồng thần kinh từ sợi C truyền đến thì có một số tế bào ở trong giai đoạn trơ [refractory period] do đó không tiếp tục dẫn truyền luồng thần kinh phát xuất từ sợi C, hậu quả là giảm cường độ dẫn truyền cảm giác đau.

[3].
Đường Median raphe phát xuất từ chất xám quanh kênh tủy [periaqueductal gray matter] của cầu não được phát hiện năm 1969 bởi Reynolds có nhiệm vụ cắt đứt đường dẫn truyền của sợi C. Kích thích điện trên đường này làm phóng thích những chất ma túy nội sinh và từ những kết quả này người ta tìm ra thụ thể muy và kappa. Châm tê được biết cũng tạo ra hiệu quả trên đường này tương tự như kích thích điện và cơ sở hóa học của châm tê cũng là các chất ma túy nội sinh [Yaksh 1974, Molley et al 1977,Finley 1978]. Các chất chống trầm cảm 3 vòng [tricylic antidepressive] cũng đã biết có tác dụng chống đau từ vài thập niên trước cuối cùng cơ chế được biết là kích thích đường Median raphe tiết ra những chất thuốc phiện nội sinh.

Tiến trình sinh lý thần kinh:
Khi kích thích một tổ chức ngoại biên hay nội tạng là tạo ra một luồng thần kinh hay một xung động thần kinh [nerve impulse], xung động này truyền đồng thời trên cả 2 loại sợi A-delta và C, do khác nhau về vận tốc dẫn truyền [12m/s-3m/s] xung động trên sợi A-delta sẽ đến sừng sau trước, tại đây nó kích thích những tế bào đa cực tạo nên điện thế động tại những tế bào này, khi xung động từ sợi C đến một dân số của những tế bào đa cực ở trong giai đoạn trơ[refractory period] hậu quả là chỉ những tế bào không trong tình trạng trơ mới có thể dẫn truyền xung động thần kinh tiếp tục [lý thuyết Wall-Melzac] càng lập lại kích thích dân số tế bào đa cực trơ càng tăng, dẫn truyền cảm giác đau càng giảm tuy nhiên không bao giờ có thể làm tất cả tế bào đa cực ở trong tình trạng trơ được vì khi đó nó cũng không tiếp nhận kích thích từ sợi A-delta nữá điều này làm một số luợng tế bào đa cực rơi vào giai đoạn hồi cực cho một điện thế động kế tiếp [Patton, Ruch Neurophysiology and Biophysic]. Đặc điểm của sự dẫn truyền này làm cho cảm giác đau có 2 thành phần rõ rệt:

+ Thành phần đau nhanh: được dẫn truyền trên sợi A-delta cơ thể ghi nhận như cảm giác xúc giác [touch sensation] có đặc điểm là không đau, có thể xác định vị trí một cách chính xác và biến mất ngay khi không còn kích thích.

+ Thành phần đau chậm: được dẫn truyền trên sợi C là cảm giác đau thật thụ, khó xác định vị trí chính xác và tiếp tục tồn tại sau khi kích thích đã hoàn toàn biến mất.

Cũng từ những ghi nhận trên chúng ta thấy rằng vai trò của thành phần đau nhanh là làm giảm cường độ của thành phần đau chậm, một phản ứng có tính cách bản năng là xoa nhẹ vùng đau tạo ra một kích thích trên sợi A-delta có tác dụng giảm đau rõ rệt, rên la khi đau là tạo ra tần số rung từ thanh quản cũng có tác dụng trên sợi A-delta tương tự như xoa nhẹ. Kích thích điện [electro- stimulation] hay áp một từ trường [magnetic field] trên da cũng có thể làm giảm đau qua cơ chế này,tia hồng ngoại [infrared] với độ dài sóng thích hợp có thể biến quang năng thành điện năng trên sợi A-delta nên tác dụng giảm đau của nó không phải là điều khó hiểu.

Còn nhiều điều muốn nói thêm, nhưng thời gian và nhất là trí lực có hạn, chỉ đăng được chừng này thôi. Các bạn có ý kiến gì bổ sung hãy trao đổi nhiệt tình nhé.

____________________________
Tài liệu tham khảo:

  1. Bài giảng dược lý của trường đại học y Hà Nội và đại học y dược TP HCM.
  2. Nguyễn Thị Tố Như, 2009, Hen Phế Quản, Bệnh học nội khoa, Đại học Y Dược TP HCM, NXB Y Học – TPHCM, tr. 283-284.
  3. Trần Thị Lan Phương, 2005, Hóa học Lipid, Hóa sinh y học, Đại học Y Dược TP HCM, NXB Y Học – HCM, tr. 40-41.
  4. Đỗ Minh Quang, 2006, Sinh lý bệnh đại cương chức năng tiêu hóa, Miễn dịch – Sinh lý bệnh, Đại học Y Dược TP HCM, NXB Y Học – HCM, tr. 276-277.
Chuyên mục: Blog
Bạn có thể theo dõi bất cứ trả lời nào cho bài viết này thông qua hệ thống phản hồi RSS 2.0. Bạn có thể tạm dừng hoặc kết thúc sự theo dõi này. Ping hiện tại không được chấp nhận.
Trả lời

XHTML: Bạn có thể sử dụng những thẻ này: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>